NGUYỄN THỊ BÍCH NGA KIÊN TRÌ VÀ TRUNG THÀNH VỚI VĂN HỌC THIẾU NHI

By Trần Vấn Lệ



Nguyễn Thị Bích Nga kiên trì và trung thành với văn học thiếu nhi


Sáng tác cho thiếu nhi vẫn luôn là ưu tiên số một đối với nhà văn Nguyễn Thị Bích Nga. Trao đổi với chị ngay khi chị vừa nhận được giải thưởng cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi lần thứ ba chị cho biết sẽ luôn chăm chỉ và trung thành với mảng văn học thiếu nhi.    
Nguyễn Thị Bích Nga nhận giải cuộc vận động sáng tác "Bước qua hai thế giới"



Một hôm trên blog cá nhân của mình nhà văn Nguyễn Thị Bích Nga bỗng vui mừng thông báo với bạn bè: "Bích Nga của các bạn vừa thực hiện thành công một cú hat-trick tức là 3 năm liền đoạt giải thưởng văn học dành cho thiếu nhi do Nhà xuất bản Kim Đồng Hội Nhà văn Hà Hội và Hội nhà văn Đan Mạch tổ chức". Những người thân quen với chị gọi điện nhắn tin chia sẻ và chúc mừng với thành quả đáng nể này của chị.  

Với tác phẩm "Chuyện cậu bé vét giếng" nhà văn Nguyễn Thị Bích Nga đã vinh dự nhận giải Nhì Cuộc vận động sáng tác văn học cho thiếu nhi lần thứ ba (2008-2009) với chủ đề "Bước qua hai thế giới".

Trước đó chị đã nhận giải Ba Cuộc vận động sáng tác văn học cho thiếu nhi lần thứ nhất (2007) và giải Nhất Cuộc vận động sáng tác văn học cho thiếu nhi lần thứ hai (2008).  

Cuộc thi sáng tác văn học cho lứa tuổi từ 4 đến 10 do NXB Kim Đồng cùng Hội Nhà văn Hà Nội và Hội Nhà văn Đan Mạch tổ chức nằm trong dự án hỗ trợ văn học thiếu nhi do Chính phủ Đan Mạch tài trợ từ năm 2006 đến 2010. Và lần này với chủ đề "Bước qua hai thế giới" tập trung vào yếu tố giả tưởng kỳ ảo. Chủ đề này được coi là thời thượng được bạn đọc nhỏ tuổi hiện nay rất chú ý sau hàng loạt các tác phẩm văn học dịch thuộc thể loại này đạt được thành công trong nước.  

Nhà văn Hồ Anh Thái Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội và là thành viên Ban chung khảo đã nhận xét về chị như sau: "Tác giả Nguyễn Thị Bích Nga tham gia cuộc vận động này đến lần thứ ba chứng tỏ sự kiên trì và say mê thực sự với văn học thiếu nhi. Nỗ lực của Nguyễn Thị Bích Nga đã được ghi nhận qua giải thưởng cao của những năm trước cũng chính nỗ lực ấy đã giúp chị thành công với "Chuyện cậu bé vét giếng". Từ hiện thực lầm than vất vả cậu bé đã đi đến một thế giới ảo nhiều mơ mộng nơi thử thách tinh thần vượt khó và tình thương với vạn vật. Nhiều chi tiết sinh động và thực sự vui đối với bạn đọc nhỏ tuổi. Tác giả tạo ra cái kết bất ngờ khi nhân vật phải lựa chọn giữa thế giới ảo và thực. Cái kết ấy có thể thuyết phục trong chỉnh thể tác phẩm nhưng có thể gây băn khoăn khi nhằm vào đối tượng thiếu nhi vốn mong chờ một kết thúc có hậu".  

Nguyễn Thị Bích Nga bắt đầu sự nghiệp viết truyện cho trẻ em rất tình cờ. Năm 1993 đọc thông báo của NXB Trẻ về cuộc thi "Văn học thiếu nhi - Vì tương lai đất nước" chị nghĩ bụng "đây cũng là cách rất hay để mình giới thiệu mấy truyện ngắn của mình...". Bộ 17 truyện ngắn được chị gom lại thành một tập sách vừa vừa có tựa đề "Chuyện cổ tích của vườn". Và thật không ngờ "Chuyện cổ tích của vườn" lọt được vào mắt xanh của Ban Giám khảo. Nhà văn Sơn Nam nói: "Tôi đọc tập truyện ngắn này một mạch cứ như uống cạn một ly nước dừa xiêm uống xong chỉ muốn KHÀ một tiếng!". Kết quả là "Chuyện cổ tích của vườn" đã nhận được giải A. (*)  

Năm 1995 NXB Kim Đồng thông báo cuộc thi Sáng tác tranh truyện cho thiếu nhi. Nhà văn Nguyễn Thị Bích Nga vẫn muốn thử sức mình lần nữa lần này không trở lại thể loại truyện ngắn nữa mà chuyển sang viết truyện vừa. Sau khi dựng cốt truyện và phác họa cái sườn chị bắt đầu viết "Nhạc giữa trời". Chị đã viết một mạch viết như chạy đua với những câu cú đang chực tuôn trào ra khỏi bộ óc hoang sơ luôn đầy ắp những hình ảnh của tưởng tượng. Kết quả cuối cùng với "Nhạc giữa trời" chị lại nhận thêm một giải A.  

Từ đó nhà văn Nguyễn Thị Bích Nga đã được NXB Trẻ và NXB Kim Đồng chú ý. Họ không chỉ mời chị cộng tác để viết truyện mà còn để biên dịch truyện cho họ nữa. Những cuốn sách nổi bật mà nhà văn Nguyễn Thị Bích Nga biên dịch như: Bộ sách Những câu chuyện kể của Roald Dahl (16 tập) bộ sách gồm những câu chuyện ngắn lý thú về các bạn nhỏ ở nước Anh đầu thế kỷ 20; Cậu bé mất mặt (tác giả Louis Sachar NXB Trẻ 1999); Gấu con Gordo và kho báu (NXB Trẻ 1999); Chú cho Shiloh và tôi (NXB Trẻ 2000); Điều kỳ diệu của Chi Chi (NXB Trẻ 2000); Thắng hay thua (NXB Trẻ 2001); Quà sinh nhật của Ann (NXB Kim Đồng 2001); Chuyện cổ tích cho Alyonushka (NXB Kim Đồng 2001); Amelia Earhart Cánh chim vượt Đại Tây dương (tác giả NXB Trẻ 2003); Con sẽ thành công (NXB Trẻ 2003); Người bạn đồng điệu (NXB Trẻ 2003); Cố gắng thêm lần nữa (NXB Trẻ 2005); Chỉ có tình yêu là bền vững (NXB Trẻ 2006); Quà tặng của tình yêu (NXB Trẻ 2007); Mẹ sẽ luôn ở bên con (NXB Trẻ 2007); Bộ truyện Ngôi nhà trên cây của tác giả Mary Pope Osborne; Bộ truyện Phù thủy xui xẻo (Jill Murphy NXB Kim Đồng 2009); Bộ sách "Tình yêu & Cuộc sống": Ông bà & cháu Chị em gái Món quà của lòng yêu thương Những câu chuyện của bà Ngày vui nhất đời tôi... của NXB Trẻ 2006. Những câu chuyện về lòng nhân ái lòng thương người lòng trắc ẩn lòng can đảm...  

Nhà văn Nguyễn Thị Bích Nga đã tham gia dịch những bộ sách Cửa sổ tâm hồn (Chicken soup for the souls) được rất nhiều độc giả yêu thích. Nhờ bộ sách này chị nhận được một bằng khen của NXB Trẻ (2005) và một bằng khen của Thành Đoàn (2006). Với một bộ sưu tập hàng trăm tác phẩm biên dịch chị hài hước tự nhận xét là mình đã có được một gia tài "đáng nể" so với một giáo viên Anh Văn.  

Về sáng tác chị viết rất nhiều tác phẩm cho thiếu nhi như: Bộ truyện dài 10 tập Chuyện huynh và muội (NXB Kim Đồng 6/2004); Truyện dài 20 tập Chiếc gương thời gian (NXB Kim Đồng 5/2006); Ngủ ngoan bé Kim ơi! (NXB Kim Đồng 9/2008); Người bạn đến từ quá khứ (NXB Trẻ 2008); Con chó hoang và những điều bí ẩn (NXB Trẻ 3/2008); Những Nốt nhạc vui (NXB Kim Đồng 4/2009); Thầy lang hai mặt (NXB Kim Đồng 6/2009)... Với nhà văn Nguyễn Thị Bích Nga mỗi cuốn sách đều là một đứa con tinh thần và chị yêu thương chúng như nhau.  

Ngoài ra nhà văn Nguyễn Thị Bích Nga còn tham gia biên dịch phim cho HTV- Đài Truyền Hình TP. Hồ Chí Minh. Trong suốt 12 năm qua (1997 - 2009) chị đã biên dịch hàng trăm phim lẻ của Mỹ phim bộ series phim nhiều tập...  

Tuy nhiên sáng tác cho thiếu nhi vẫn luôn là ưu tiên số một đối với nhà văn Nguyễn Thị Bích Nga. Trao đổi với chị ngay khi chị vừa nhận được giải thưởng sáng tác cho thiếu nhi lần thứ ba nhà văn Nguyễn Thị Bích Nga cho biết sẽ luôn chăm chỉ và trung thành với mảng văn học thiếu nhi:  

* Cảm giác của chị thế nào khi lần thứ ba được trao giải thưởng của cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi?

- Là một cây bút không chuyên tôi luôn có cảm giác vui sướng đến mất tự chủ mỗi khi nhận được thông báo tác phẩm của tôi được trúng giải. Nhận được tin vui xong tôi cười to một mình và liên tục gọi điện thoại cho một số bạn bè thân thiết để báo cho họ biết tin vui đó. Lần nay thì đặc biệt hơn đúng vậy vì đây là lần thứ ba mà nói theo thuật ngữ bóng đá đây là một cú hat-trick của một cầu thủ. Tôi cảm thấy mình thật sự tự hào về tính làm việc nghiêm túc và chăm chỉ của mình.  

* Động lực nào đã khiến chị say mê sáng tác cho thiếu nhi như vậy?  

- Vào năm 1993 tôi bắt đầu viết truyện cho thiếu nhi bằng việc tham dự cuộc thi "Văn học thiếu nhi - Vì tương lai đất nước" lần thứ nhất. Tôi rất bất ngờ (nhưng cũng rất phấn khởi) khi tác phẩm "Chuyện cổ tích của vườn" của tôi được giải A. Từ đó tôi bền bỉ kiên trì và trung thành với dòng văn học dành cho trẻ thơ. Tôi chỉ thích viết truyện cho thiếu nhi vì nó dễ viết. Chỉ cần nghĩ đến một khu vườn nhỏ là tôi có thể viết được 17 truyện ngắn. Chỉ cần nghĩ đến một chiếc gương thời gian là tôi có thể bay bổng trong một thế giới giả tưởng của riêng mình và hoàn thành 20 tập. Tôi không biết mình viết truyện cho thiếu nhi hay là viết cho chính mình - một đứa trẻ dịu dàng yếu đuối ẩn trong thân xác của một phụ nữ có tuổi đời đã chớm đến con số 50; nhưng tôi biết tôi sẽ tiếp tục viết truyện cho thiếu nhi và sẽ không một thể loại nào khác ngoài truyện dành cho thiếu nhi.  

* Chị có thể tiết lộ những dự định văn chương sắp tới của chị?  

- Tôi không có dự định nào ngoài vài đơn đặt hàng của các nhà xuất bản. Cụ thể là từ nay tới cuối năm phải hoàn thành bộ truyện "Những người sống quanh em" (20 tập) cho Nhà xuất bản Kim Đồng và một tập truyện ngắn "Bài ca người chăn ngỗng" cho Nhà xuất bản Trẻ. Còn sang năm 2010 thì... chuyện gì đến sẽ đến. Tôi luôn sẵn sàng đón nhận mọi thử thách vẫn còn chờ đợi tôi ở phía trước.

 

SỸ HOÀNG


 Nguồn:

http://vanhocquenha.vn/view.asp?n_id=3345&n_muctin=23


------------------

Nguyễn Thị Bích Nga

Sinh năm 1961

Cử nhân Ngữ văn Việt và Cử nhân Anh văn thành viên ban biên tập website Việt Văn Mới (newvietart.com) dịch giả Anh - Việt và Việt - Anh đã biên tập hàng trăm tập sách sáng tác rất nhiều tập truyện thiếu nhi.

Hiện đang làm Giáo viên Anh văn tại trường Ngoại ngữ Không gian (Outerspace Language School) TP. Hồ Chí Minh

"Chuyện cổ tích của vườn" - tác phẩm đoạt giải A trong Cuộc vận động sáng tác dành cho thiếu nhi của NXB Trẻ Giải Văn học thiếu nhi Vì tương lai đất nước lần I (năm 1993).

 "Nhạc giữa trời" đoạt giải A - Cuộc vận động sáng tác truyện dành cho thiếu nhi của NXB Kim Đồng năm 1995.

 "Năm câu chuyện về bé Kim" - giải ba Cuộc vận động sáng tác văn học cho thiếu nhi với chủ đề "Tình bạn tuổi thơ" năm 2007.

 "Thầy lang hai mặt" - giải nhất Cuộc vận động sáng tác văn học cho thiếu nhi với chủ đề "Một ngày kỳ lạ" năm 2008.

 "Chuyện cậu bé vét giếng" - giải nhì Cuộc vận động sáng tác văn học cho thiếu nhi với chủ đề "Bước đi giữa hai thế giới" năm 2009.

---------------------

(*) Bích Nga tự truyện và thế giới thần tiên

 

 

 

More...

NHÂN ĐỌC ĐƯỢC MỘT BÀI THƠ

By Trần Vấn Lệ


 

NHÂN ĐỌC ĐƯỢC MỘT BÀI THƠ


Bài viết trước Rằm Tháng Bảy Kỷ Sửu



Tôi quen biết anh Sửu Nguyễn Đăng Sửu chừng đâu năm sáu năm nay.  Anh tên Sửu vì anh tuổi Sửu.  Năm nay năm Kỷ Sửu anh bảy mươi bốn tuổi rồi anh hơn tôi sáu tuổi nhưng trông anh còn trẻ trung lắm ấy cũng nhờ lúc nào cũng thấy anh vui gặp anh em bè bạn là anh cười đón niềm nỡ ở nhà hay ở quán nước.  Tôi chưa thấy anh buồn bao giờ (có thể vì sự "hội ngộ" của anh và tôi không thường xuyên mỗi tháng gặp nhau không hơn một lần hơn nữa tôi cư ngụ hơi xa vùng anh và gia đình anh đã có cơ ngơi).

Độ hai tháng nay anh không ra chỗ bạn bè thường tụ họp sáng Thứ Bảy cuối tuần.  Hỏi thăm thì nghe nói anh chị và các cháu về Việt Nam.  Không ai thắc mắc gia đình anh "hồi hương" làm chi bởi ai cũng nghĩ chuyện đi đi về về độ rày bình thường.  Anh về Huế.  Anh sinh trưởng ở Huế trước 30 tháng Tư năm 1975 anh đã là một nhân hào thân sĩ  ở đây; sau 30 tháng Tư liệu bề "chịu không nổi" anh dẫn cả nhà đi vượt biển và tới nơi mơ ước.  Anh Chị đi học nghề lao lực kiếm sống khá thành công nuôi bầy con ăn học đàng hoàng hiện thời đứa nào cũng xong Đại Học có một cô gái tốt nghiệp Haward.  Anh chị có một ngôi nhà rất bề thế ở thành phố Garden Grove thuộc Tiểu Bang California gần đó có nhiều người gốc Huế quen biết với anh ngày xưa ai cũng ham làm nên ai cũng có đời sống thoải mái và sự giao tiếp thêm đậm nét thân tình.

Đôi nét loáng thoáng về cái "tiểu sử" của anh mà tôi được biết "rứa" theo tôi là đủ để mình "thân ái" với anh và đáp lại hình như chưa bao giờ tôi thấy anh giận dỗi tôi dẫu tôi hay "phát ngôn bừa bãi"nhất là những khi tôi nghe ai đó nói các chữ "thân thương" "bức xúc" "hoành tráng"... Anh không có ý kiến gì những lúc tôi "nổi cơn khùng" chỉ nhẹ nhàng khui thêm chai bia nữa bảo bên tai tôi:  "Chú em uống đi cho nguội!".  Anh Sửu đặc biệt chưa bao giờ tôi nghe anh nói những lời nào như người Cộng Sản nói mà cũng ngộ thay anh cũng chưa hề "bệ vệ" như những người quốc gia có "máu mặt".  Trong giới báo chí sách vở nghệ thuật anh từng là "mạnh thường quân" giấu mặt giấu tên có người thương nhớ anh có người "phủi tay".  Tôi có cho ra đời vài cuốn sách biếu anh anh luôn luôn đáp ứng dù tượng trưng tôi nhủ lòng không quên ơn anh...

Trung tuần tháng Bảy 2009 tôi ghé nhà thăm anh theo lời "yêu cầu" của anh qua điên thoại.  Cuộc viếng thăm bình thường:  ra patio ngắm hoa hút thuốc và uống bia.  Lúc chia tay anh kéo tôi vào phòng của anh đưa tôi hai tờ giấy có chữ anh nói:  "Anh nhờ chú coi lại giùm anh sửa giùm anh nếu thấy anh viết chưa chỉnh".  Tôi đinh ninh anh "mần thơ" tôi cầm lên đọc quả đúng là bài thơ!  Nhưng tôi xịu ngay nói với anh "Đây là bài Điếu Văn mà!  Em thật tình không biết Bác Gái đã mất em xin lỗi anh đã không chia buồn."  Anh nói: "Chuyện riêng của gia đình anh đâu muốn làm phiền lụy bạn bè anh về Việt Nam vì vậy đó.  Đây là những lời anh thưa với Mạ anh em xem lại giùm chỗ nào chữ nào chưa chỉnh thì em sửa hộ anh để anh có chút gì "kỷ niệm".  Tôi rụng rời... Anh bắt tôi làm chuyện "lớn" quá nhưng mà chẳng sao "Em sẽ làm anh vui lòng và anh hãy yên tâm anh sẽ nhận được một cái gì đó chính là Tấm Lòng Của Anh".  Tôi chia tay anh để đi "nhậu" cho hết ngày Thứ Bảy.  Tối về nhà mở ra đọc trời ơi một bài thơ Hay!

Bài thơ anh Nguyễn Đăng Sửu làm cho Mạ anh trong ngày bà lâm chung và vĩnh biệt con cháu.  Lễ tang cử hành tại Huế mấy tháng trước.  Nói là bài thơ vì anh Sửu trình bày như một bài thơ.  Xét về nội dung thì đây là vạn vạn cuốn kinh điển được rút ngắn và cô đọng.  Tôi chỉ còn một việc duy nhất:  đánh máy lại thật đàng hoàng in ra trên giấy loại đẹp và gửi anh.  Chẳng dám sửa gì cả.  Tuy nhiên nói vậy mà không phải vậy tôi có sửa:  anh nói  Mạ Về Tây Phương Cực Lạc tôi sửa "Mạ Về Tây Phương Cõi Phật".  Cực Lạc là gì là Vui Lắm Vui quá xá là Vui Vui như ở Sòng Bạc chăng?  Không!  Đạo Phật dứt khoát Vui Buồn dứt khoát Tham Sân Si.  Đạo Phật là Đạo từ Tâm và dàn trải trong cõi Vô Thường.  Cõi Phật là Cõi Nào tôi không biết chỉ mường tượng:  Cõi Bình Yên không hận thù không tranh chấp không so đo không tính toán.  Hễ có người Vui hẳn phải có người Buồn.  Mà Vui Buồn gì nữa khi chúng ta đã trút bỏ kiếp người!  Tôi sửa mấy chữ Tây Phương Cực Lạc ra Tây Phương Cõi Phật và quyết không thay đổi gì nữa tôi đánh máy và gửi cho anh chịu hay không chịu kệ anh!

Bài thơ của Anh Sửu viết cho Mạ đọc cho Mạ trước anh em trong nhà ngày Mạ ra đi vĩnh viễn tôi ứa lệ.  Tôi thương anh Sửu quá chừng có gì để nói anh Làm-Thơ-Chưa-Hay khi anh làm Thơ xuất phát từ tấm lòng anh nói cho Mẹ một Kỳ Quan vượt bậc so với "hệ thống" kỳ quan trên thế giới này?

Tôi thêm câu tư tưởng (danh ngôn) nói về Kỳ Quan nói về Mẹ và đặt nó trên đầu bài thơ coi như  là cái Tựa Đề.  Phần riêng Anh Sửu thì anh chỉ mở đầu bằng hai chữ Mạ Ơi!  Tôi thành thật xin anh tha thứ nếu thấy tôi "ẩu xị" quá chừng dám làm điều gì đó anh chửa biết...



TRÊN THẾ GIỚI CÓ RẤT NHIỀU KỲ QUAN NHƯNG KHÔNG CÓ KỲ QUAN NÀO SÁNH ĐƯỢC VỚI TẤM LÒNG CỦA MẸ.



*


Mạ ơi!


Vẫn biết cuộc đời vốn Sinh Ly Tử  Biệt

"Sống gửi thác về" là chuyện của nhân gian

Nhưng chúng con vẫn đau đớn vô vàn

Khi bóng Mạ của chúng con Không Còn Nữa!


Mạ ngày xưa cả một đời gian khổ

Dưới lũy tre xanh bên họ Ngoại Đốc Sơ

Giúp đỡ mẹ Cha nuôi nấng em thơ

Thời con gái biết bao năm vất vả.


Đến khi lấy chồng Mạ lại càng tất tả

Chạy ngược xuôi với chồng nuôi nấng đàn con

Bà Ngoại ốm đau Mạ thức suốt canh tàn

Mạ chăm sóc các Dì còn thơ bé

Bao cực nhọc Mạ nửa lời không hé

Bao gian truân Mạ cũng chẳng thở than

Trước như sau chỉ một Tấm Lòng Vàng

Một Tấm Lòng Của Người Con Hiếu Thảo!


Khi về làm dâu nhà họ Nguyễn Đăng

Cha Mạ thương nhau như muối mặn gừng cay

Sinh ra chúng con: năm trai chín gái mười bốn người

Một đàn con sớm hôm quây quần bên Mạ

Lấy gì nuôi con trong thời kỳ giặc giã?

Ba mươi năm chiến tranh gian khổ vô cùng

Thế là Mạ chúng con lại phải còng lưng

Một nắng hai sương đầu tắt mặt tối!


Ngày mua lúa đêm về xay giã gạo

Lấy cám nuôi heo rau cháo qua ngày

Nuôi nấng đàn con đứa ốm đứa gầy

Tất cả lớn lên bằng Tình Thương Của Mạ!


Trăm đắng ngàn cay Mạ quên tất cả

Gian khổ bao nhiêu Mạ cũng sống thật thà

Xóm dưới làng trên nội ngoại gần xa

Thuận hòa với nhau để Phúc Đức Cho Con Cháu.


Mạ yêu thương ơi!

Hơn bảy mươi năm qua

Từ đứa con đầu lòng đến cô em út

Tất cả chúng con khôn lớn trưởng thành

Có đứa bán buôn có đứa học hành

Có đứa ở gần đứa xa ngàn dặm

Dâu Rễ Nội Ngoại sống trong đằm thắm

Sống trong Lục Hòa theo Đạo Từ Bi.


Thế mà nay Mạ đã ra đi

Chúng con xót xa chưa báo ân Từ Mẫu

Tấm lòng chúng con xin Mạ hiểu thấu

Xin nguyện một lòng Nuôi Dạy Cháu Con

Hiếu Thảo với Cha Mẹ Tử Tế với Xóm Làng

Để Mạ được yên lòng về Tây Phương Cõi Phật.


Mạ ơi!


Dẫu biết Chín Mươi Mốt Tuổi Trời   Mạ ra đi thanh thản

Nhưng với chúng con

Đau Thương Này Là Vô Hạn Vô Cùng

Xin nguyện cầu hương hồn Mạ vãng sinh

Xin dâng lên Mạ tấm lòng thơm thảo

Của Đàn Con Yêu Quý Mạ!



Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

Kính Lậy Mạ

Con của Mạ xin thay mặt cả nhà Nguyễn Đăng Sửu


*

Bài thơ Mạ Ơi của anh Sửu tôi đánh máy đã xong in ra và gửi cho anh rồi.  Một đô ba mươi chín xu tiền tem... Tôi sợ Thứ Bảy này (cuối tháng Bảy)  tôi không xuống Orange County không gặp anh được bưu điện làm giùm tôi việc chuyển trao nghĩ cũng là tình. 

Sắp tới Rằm Tháng Bảy Rằm Trung Nguyên Rằm Xá Tội Vong Nhân Rằm Báo Hiếu anh Sửu nhất định là sẽ làm hết phận mình lo cho Mẹ ở dưới Cửu Tuyền:  Một Bữa Cúng Mạ với đủ thức ngon vật lạ nhưng thấm thía nhất là Trái Tim của một đứa con.

Bữa Cúng đó chắc anh sẽ làm ở Huế.  Tôi nghe nói anh sắp về mà tháng Bảy Âm Lịch cũng sắp tới.  Tôi chỉ muốn nói với anh:  "Trong đời người chỉ cần một bài Thơ thôi cũng đủ.".  Anh Sửu là Thi Nhân dù chưa là của Đời đã là của Mạ anh của các em anh của tôi - một người với anh là lang bạt kỳ hồ.  Vui chớ đâu đó chúng ta đã gặp nhau trong ấm áp của cái Tình!


TRẦN VẤN LỆ


More...

MỘT BÀI BÁO HAY CỦA EVAN.VNEXPRESS.NET

By Trần Vấn Lệ




http://evan.vnexpress.net/News/Tin-tuc/trong-nuoc/2010/04/3B9AEA38/



NXB KIM ĐỒNG KÊU GỌI BẢN THẢO DỰ THI


Thoại Hà


Với chủ đề Đối thoại với thiên nhiên cuộc vận động sáng tác thuộc Dự án hỗ trợ văn học thiếu nhi VN - Đan Mạch do NXB Kim Đồng thực hiện đang cần nhiều bản thảo hơn nữa.

Theo Ban tổ chức cuộc vận động đã nhận tác phẩm dự thi từ ngày 4/11/2009 đến 30/6/2010 nhưng đến nay cuộc thi đang rất cần các cây bút và họa sĩ quan tâm hơn nữa để có những bản thảo chất lượng.


Nhà văn Nguyễn Thị Bích Nga là cây bút nhiều lần đoạt giải thưởng cuộc vận động sáng tác thuộc Dự án hỗ trợ văn học thiếu nhi VN - Đan Mạch. Ảnh: Thoại Hà 


Tác phẩm dự thi phải là các sáng tác cho đối tượng từ 4 đến 10 tuổi gồm: văn xuôi (truyện ngắn mỗi truyện tối đa 5.000 từ) hoặc tranh truyện. Tranh truyện một tác giả hoặc đồng tác giả (tác giả lời - tác giả hình ảnh) tranh màu hay tranh đen trắng đều có thể chấp nhận

Các tác giả có thể sử dụng phương pháp sáng tác giả tưởng hoặc hiện thực trong tác phẩm dự thi. Tổng kết và trao giải thưởng vào trung tuần tháng 11.

Tác phẩm dự thi phải là sáng tác mới chưa in thành sách và chưa sử dụng dưới bất kỳ hình thức nào. Bản thảo dự thi được đánh máy hoặc vẽ trên một mặt giấy.

Bản thảo dự thi gửi về Phòng bản quyền Nhà xuất bản Kim Đồng số 55 Quang Trung Hà Nội. Hoặc emai: dahotrovanhocthieunhi@yahoo.com ngoài phong bì cần ghi rõ: Bản thảo tham gia "Cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi 2009 - 2010".

Trong thời gian tiếp nhận bản thảo những tác phẩm có chất lượng được đưa vào kế hoạch xuất bản 2010 - 2011 của NXB Kim Đồng.

Giải thưởng cao nhất là 20 triệu đồng thấp nhất là 7 triệu đồng.

Dự án hỗ trợ văn học thiếu nhi của Đan Mạch dành cho Việt Nam kéo dài 5 năm (2006-2010) được ký ngày 29/12/2005 giữa Giám đốc Nhà xuất bản Kim Đồng ông Phạm Quang Vinh và đại sứ Đan Mạch Peter Lysholt Hansen. Năm 2010 là chặng cuối của dự án hỗ trợ này.

http://evan.vnexpress.net/News/Tin-tuc/trong-nuoc/2010/04/3B9AEA38/

 

More...

HỒI ÂM THƯ TRẦN HUY SAO

By Trần Vấn Lệ

Tôi ở Đà Lạt ba-mươi-mốt năm.

Năm 1958 tôi lên Đà Lạt để học Trung Học Đệ Nhị cấp. Năm 1960 xuống Nha Trang học Sư Phạm. Năm 1961 về lại Đà Lạt làm thầy giáo tiếp tục tự học lập gia đình và năm 1965 đi vào trường Bộ Binh Thủ Đức. Ra trường Bộ Binh tôi tác chiến tại Bình Thuận ba năm sau thì biệt phái về dạy học lại. Tôi có một thời gian “cải tạo” khá dài khi chế độ mới ngự trị trên cả nước. Tôi rời bỏ hẳn Đà Lạt đầu năm 1989 tôi đi qua Mỹ…

Với tôi Đà Lạt đã thành ruột rà. Hầu như không chỗ nào của Đà Lạt mà chân tôi không giẫm tới. Những cảnh đẹp đã đành (đi chung với học trò) những nơi heo hút sóc Thượng K’Ho M’Nông Chu Ru… tôi cũng không ngần ngại. Người Đà Lạt tôi quen đông (Cha Mẹ học trò các bạn đồng nghiệp). Tôi thường giao du với những vị lão thành uống rượu Tây chơi không bàn bạc bất cứ chuyện nhân tình thế sự nào ai cũng cùng có một ý nghĩ giống nhau : sống đời này là tạm bợ khi con người mất niềm tin. Lãng đãng một thoáng chính kiến rồi đó. Nhức đầu cho qua đi!

Những bạn già của tôi mất gần hết. Họ chết sau năm 1975 ngay trên quê nhà hay ở ngoài nước vì tuổi cao tàn tạ và tuyệt vọng…

Cuối năm 1989 tôi tới Mỹ gặp lại một ít bạn rồi từ từ chia tay. Tới phiên tôi không còn ai để đọc cáo phó hay có lời phân ưu. Chẳng sao! Tôi làm Thơ rải đi cùng khắp. Tôi nghĩ với cách này tôi sẽ có bạn gặp lại bạn cũ thêm bạn mới. Những người Đà Lạt luôn luôn nặng cái tình.

Tôi gặp Trần Huy Sao trong tình huống này khi tôi vẫn còn sống.

Trần Huy Sao làm Thơ hay quá. Hay thật. Hay là hay. Giản dị. Đời thường. Hay đáng cho điểm 9 điểm 10. Trung bình là 5 Trần Huy Sao không ở cái thang điểm nhiều hạn chế. Tôi đọc anh thường xuyên trên nhiều Báo. Tôi thấy anh in sách. Và có vài tập Thơ của anh tôi mua được làm của riêng trong nhà.

Tôi ở Đà Lạt. Trần Huy Sao cũng ở Đà Lạt. Ngộ ghê không quen nhau ở quê nhà. Nơi tôi cư ngụ là đường Hoàng Diệu. Nơi anh cư ngụ là đường Ngô Quyền. Cách nhau chỉ 3 hay 4 cây số. Nơi Trần Huy Sao cư ngụ được gọi là Cây Số Bốn. Nơi tôi cư ngụ là Khóm Mỹ Thành (còn gọi là Khu Lò Gạch Xóm Thượng Cam Ly).

Khóm Đa Trung Đa Cát Bạch Đằng Đa Thành chẳng xa lạ gì đối với tôi nhưng thật tình tôi quen ít người. Trong thơ Trần Huy Sao thấy nhắc hoài về những địa danh đó lòng tôi xốn xang mắc cỡ nhiều nhiều…

Qua Mỹ tôi gặp Trần Huy Sao hai lần. Mới đây thôi. Hai lần ấy hai năm năm trước năm này ở Hội Ái Hữu Đà Lạt. Gặp trên đồi thông xanh biếc Fountain Valley. Bắt tay nhau nói dăm ba câu chuyện rồi thôi vì phải bắt tay thêm nhiều người nữa. Trần Huy Sao dành cho tôi những tình cảm rất đặc biệt vì anh nói anh thường đọc Thơ tôi trên các Báo tìm hiểu tác giả thì biết là dân Đà Lạt. Tôi không ngần ngại gì khi khi lặp lại những lời ấy với anh – đọc thơ Trần Huy Sao hoài hoài biết Trần Huy Sao là dân Đà Lạt thấy Trần Huy Sao có nói về Ban Mê Thuột về Huế văn kiến kỳ thanh… Bây giờ mình gặp nhau đây đúng quá thơ của Trần Huy Sao nhé: “Gặp nhau thương lại thời yêu dấu mắt cay lòng quặn nhớ ngày xưa”.

Ngày xưa hai đứa tôi không quen biết nhưng bây giờ nhắc lại đường đi nước bước của Đà Lạt coi như từng đồng hành… Tôi luôn nói với lòng: Thơ Trần Huy Sao thật là hay! Nói như vậy hoàn toàn không khách sáo không nịnh bợ. Nói như vậy là nói thật lòng. Những gì mà tôi với Trần Huy Sao nói với nhau trong lần gặp mặt đầu tiên năm 2006 không nói lại vào năm 2007 bởi đã nói rồi và đinh đã đóng cột! Tôi ghi laị trong bài này là cái cớ chỉ là cái cớ cho biết vì đâu tôi không quên Trần Huy Sao không quên thơ Trần Huy Sao. Con người xương thịt Trần Huy Sao: đàng hoàng khả ái nồng nhiệt. Thơ Trần Huy Sao: chân thật đằm thắm dịu dàng êm ái nhẹ như ru.

Gặp Trần Huy Sao đọc thơ Trần Huy Sao liên lạc thư tín với Trần Huy Sao lòng tôi luôn ray rứt: bao giờ mình về lại Đà Lạt nhỉ? Lên Cây Số Bốn thăm Khóm Đa Cát đi tới nữa thăm trường Bạch Đằng xuống thung lũng gõ cửa nhà ông Cam Lĩnh đốt cho Ông một nén hương. Thơ của tôi hiện ra loáng thoáng. Thơ của Trần Huy Sao thì tràn ngập trong hồn tôi. Không cùng anh ít ra một lần đi bên nhau như từ nhiều năm nay thơ anh là niềm quấn quyện là Đà Lạt là Ban Mê Thuột là Huế dễ thương ngọt ngào nghẹn ngào!

Sáng nay mở internet đọc được e.mail Trần Huy Sao thăm hỏi tôi hồi âm cho anh như thế này ngắn dài như tóc mai anh nhé… 

Tôi rất cảm động khi đọc bài thơ về Đà Lạt anh thác lời của người chị chờ mong em ở xa rất xa:


NGẬM NGÙI THÁNG GIÊNG


Em nói tháng Giêng về thăm Chị

Bây chừ tháng mấy rồi hở em?

Mưa nắng qua hiên Đời cô tịch

Chị chờ em rộn bước bên thềm

 

Em đi tính đã mười năm lẻ

Là bấy nhiêu ngày Chị nhớ mong

Nước mắt rơi theo dòng dâu bể

Răng mà lâu vậy hởi em thương!

 

Không biết bây chừ em có khác

Đất người mờ nhạt nỗi thương quê!

Tóc xanh e cũng nhiều sợi bạc

Lòng có còn quen một lối về!

 

Mười năm! Em biết mười năm đó!

Đời cũng vàng Thu lá rụng thềm

Chị ở quê nhà rưng nỗi nhớ

Bao giờ mới được nắm tay em!

 

Bao giờ nấu lại nồi cơm mới

Khui hủ cà dưa muối để dành

Ngồi ngó em ăn vui mà khóc

Đừng cười ốt dột Chị nghe em!

 

Thương em Chị cũng thành thơ dại

Dễ hờn dễ tủi dễ cười vui

Mai mốt tháng Giêng quày trở lại

Chị vẫn bên hiên đứng ngậm ngùi !!! 

 

Trần Huy Sao làm thơ cho Đà Lạt nhiều nhiều lắm. Có bài làm ở chùa Linh Quang chùa này ở Cây Số 4 tôi có biết tôi có nhiều bạn tu ở chùa này họ đã tu xuất hết rồi vì thời chiến thanh niên ai cũng phải đi lính. Trần Huy Sao làm tôi nhớ lại chỗ tôi từng đứng nhìn khói nhang bay tôi biết khói nhang vẫn còn bay mà tôi thì cũng như anh xa xôi vạn dặm! 

Những bài Thơ anh viết về Ban Mê Thuột khiến tôi buồn buồn. Một vài đoạn thế này hỏi không thương làm sao cho được ? 


Mắt dại mùa Thu tim mùa dông bão

Hồn theo Thơ mà lòng dạ theo em

Người đời nói đường tình yêu rất đẹp

Có đẹp gì đâu ! Chóng mặt quá chừng!

 

Chưa tìm được cho riêng mình dáng đứng

Trong tim em nên cứ chạy vòng quanh

Phố Bụi tình thơ tôi cứ để dành

Em có quay đi tôi còn cất giấu!

 

Bông cà phê trắng nõn thuở ban đầu

Sao đoạn cuối lại giọt màu đen đắng?

Em Phố Bụi của một thời áo trắng

Mà giờ đây loạn lạc tới phố nào?!!!

 

(PHỐ BỤI NHỮNG TÌNH THƠ) 


Tôi không hiểu sao Trần Huy Sao có một bài cho Huế rất đau đớn. Anh nguyên quán Huế mà răng rứa hè! Cái tựa đề của bài Thơ. "Phụ Phàng" đã thấy tràn trề nước mắt. Anh để trước khi đi vào bài hai câu thật thê thảm: "Huế rất đau lòng mà không nói. Những kẻ yêu rồi phụ phàng nhau". Nhưng thật may mắn cho người thưởng ngoạn nội dung bài Thơ không đến nỗi nào bi thiết lắm...

Phụ phàng chi tội rứa anh
Cho ran lồng ngực cho hành hạ nhau!

Tình như sớm đánh tối đầu
Nay hờn mai giận lụy sầu do đâu?

Để rồi đứng với chưa lâu
Nói chi tới chuyện ngồi lâu níu tình!

Mặc em ở với một mình
Anh đi đâu kiếm ái tình thì đi

Rứa là tính chuyện chia ly
Rứa là kẻ ở người đi! Rứa là...

Mai kia mốt nọ ngang nhà
Có còn liếc trộm như là hồi xưa?

E chừng sớm nắng chiều mưa
Chuyện hồi xưa đã ngày xưa mất rồi!

Hôm qua ngang ngõ nhà người
Thấy ai chẻ tóc bạc trời mây bay....

Trần Huy Sao đến Mỹ trên dưới mười-lăm-năm nay. Tuổi trẻ bay mất là chuyện của thời gian không ai tránh được. Không cần ngang ngõ nhà ai ta cứ ngồi trước gương chính ta chải tóc cho ta cả bầu trời trắng mây trên tóc! Nhiều người bạn già của tôi đã chết. Chuyện đời như chớp mắt như sớm nắng như chiều mưa! Đúng như Trần Huy Sao nói: "Chuyện hồi xưa đã ngày xưa mất rồi!". Tôi đọc thơ Trần Huy Sao thấy mình thêm tuổi lúc nào không biết...

Hồi âm cho Trần Huy Sao tôi kéo dài như cùng ai uống rượu. Tuổi tàn rồi chúng ta có quyền "nhề nhệ" phải không Trần Huy Sao?


TRẦN VẤN LỆ
Temple City Oct.26 2007


More...

ĐỌC "CUỐI CÙNG" - TÁC PHẨM CUỐI CÙNG CỦA NHÀ VĂN VÕ PHIẾN

By Trần Vấn Lệ

 

Nhà văn Võ Phiến năm nay 2010 85 tuổi. Ông viết xong cuốn “Cuối Cùng” năm 2007 đầu năm 2010 tại phòng Hội của Nhật Báo Viet Herald ở Nam California ông có mặt trong buổi ra mắt sách. Vậy là… ông còn. Vẫn còn sống còn tại thế. Không ai tin điều đó với một ông già sau hai lần mổ tim sau gần trăm năm lam lũ (ở quê nhà Bình Định ở sách vở văn chương ở những hãng xưởng Mỹ ở tuổi già bệnh hoạn…). Gần ba trăm người đón chào ông Võ Phiến trong tình cảm người với người trong sự mong được nhìn thấy một người khỏe mạnh. Ông Võ Phiến xuất hiện trước đám đông với nụ cười với dáng dấp dễ thương của một người già nua còn… tráng kiện. 

Tôi không “mô tả” nhiều thêm về buổi xuất hiện của nhà văn Võ Phiến ngày Ra Mắt Cuốn Sách “Cuối Cùng” của ông. Tôi muốn nói về cuốn sách đó – một cuốn sách Đẹp in đẹp mà nội dung cũng đẹp. 

Cuốn sách được nhà xuất bản Thế Kỷ 21 in và xuất bản năm ghi trên bìa: 2009. 

Cuốn sách in thật đẹp trình bày thật bắt mắt trên giấy màu vàng nhạt trang nhã tính cả bìa trong bìa bọc ngoài cuốn sách dày 192 trang. Sách không ghi giá bán mua tại tiệm sách chỉ mất mười lăm đô. Nếu bình thường thì mắc đấy nhưng cầm cuốn sách trên tay ai cũng bằng lòng và cho là còn rẻ lắm. Tác giả chắc hưởng tác quyền không bao nhiêu. Nhà in hưởng nhiều hơn hết cái công lao của nó. Nhà xuất bản nhất định là hồi hộp không biết thu có huề vốn không… Tôi không theo dõi “diễn biến thị trường” của cuốn sách nhưng tôi tin… ai cũng vui trong tình huống kinh tế suy sụp hiện nay. Với tên tuổi vang lừng của tác giả với sự trang nhã của một ấn phẩm mang tầm Thế Kỷ và với sự chăm sóc tận tình của nhà xuất bản Thế Kỷ Hai Mươi Mốt nhất định cuốn Cuối Cùng sẽ tái bản nay mai thôi… 

*

Ông Võ Phiến được nhiều lớp độc giả đồng ý: Ông là nhà văn kỳ cựu. Cùng “lứa” với ông hiện chỉ còn Hà Thượng Nhân Phạm Cao Củng Hoàng Văn Đức Trần Ngọc Ninh… Chưa ai là “người muôn năm cũ” cả vì… còn sống! Những người còn sống nói đúng là “còn sót” theo tôi biết không ai còn “nhuệ khí”. Nếu “còn bình thường” thì con cháu cũng không cho các Cụ đụng đến sách vở nữa. Ông Võ Phiến cũng bị “hạn chế” rất nhiều: ăn uống phải kiêng khem đọc sách báo phải… ít thôi con cháu ở xa về thăm cha mẹ già phải chia phiên nhau về hoài hoài để cho ông quên lãng là mình đang hiu quạnh. Việc ông Võ Phiến có cuốn “Cuối Cùng” là ngoài ý muốn của ông chính vợ và các con ông xếp đặt cho ông còn “hiện diên” qua sự gợi ý… chào hàng của nhà xuất bản Thế Kỷ 21. Những bài trong “Cuối Cùng” là những bài đã xong từ “hồi nảo hồi nao”. Thôi thì đem in nghĩ cũng như mua vui cùng độc giả dẫu vài trống canh. 

Bạn nhìn ảnh ông Võ Phiến in kèm theo sách không thương thiệt uổng. Ôi một ông già sự hồng hào còn thấy đuợc chẳng qua là màu mè chụp được bởi cái máy chụp hình. Thực tế thì ông đã xanh xao và đi đứng yếu xìu! Trẻ sao già vậy trách ai? Người ta cầu Trời cầu Phật cho mình mạnh khỏe không ai cầu xin cái gì mình không muốn! Con Tạo xoay vần tới đâu thì cứ xoay chúng ta còn ông Võ Phiến còn đọc cuốn sách “Cuối Cùng” của ông là chúng ta còn Vui! 

Ông Võ Phiến không viết hồi ký không viết nhật ký. Cuốn “Cuối Cùng” của ông đuợc coi như một tập Tạp Bút viết đủ thể loại: Thơ truyện ngắn tùy bút biên khảo… Ông hay “người nhà” ông gom góp lại để cho cuốn sách cái bề dày thích hợp. Những bài (đủ thể loại đó) ông viết bình thường không nghĩ là mình còn sống có ngày sẽ chết viết để mà “lưu chiếu hãn thanh”. Ông viết hồn nhiên dễ thương chỗ nào chẻ tóc làm tư được ông cứ ngồi tỉ mỉ tủn mủn mà chẻ… cho chữ thêm dòng giấy thêm trang. Ông Võ Phiến có cái văn phong đẹp: không ồn ào náo nhiệt không hợm hĩnh se sua. Ông sinh ra ở quê ông vẫn quê một cục có điều cái cục quê của ông thơm nhờ ông đi học nhiều nơi qua nhiều trường từng ở nhà Ông Đào Duy Anh từng viết báo tại Hà Nội (thời tiền chiến) ông “lai” mà không “lai căng” do đó ông dễ thương lẩm cẩm mà dễ thương. Ai đọc sách của Võ Phiến đều không chê không nói “không cần” đã đọc sách Võ Phiến là thấy mình… gần với thiên nhiên với con người với những cái tầm thường minh không ngờ nó chẳng tầm thường tí nào! 

Tôi chịu Ông Võ Phiến về cái trầm tĩnh của ông trước mọi biến động của xã hội. Ông (dẫn cả nhà) trôi theo dòng đời ông không buông xuôi ông vẫn vững tay chèo đưa nguời thân của mình tới bến bờ yên ổn – ông làm việc nuôi vợ con ông viết văn kiếm thêm chút đỉnh ông không “sinh sự” ông có quan tâm tới “sự sinh” và ông chép miệng thôi. Với bộ biên khảo Văn Học Miền Nam ông khổ - khổ tâm nhọc sức đã đành còn khổ vì nhiều người không thấy đuợc ông nhắc tới đâm ra oán thù mắng chửi ông trên báo chí. Ông Võ Phiến không khoát tay nói: kệ dư luận. Ông chớp mắt nói nhẹ nhàng: “có cái tôi quên có cái tôi muốn nhắc mà lỡ cuộc”. Nhà ông tôi thấy thờ cúng Tổ Tiên nhưng tôi ngó ngực ông tôi mường tượng những dấu đấm của chính ông dành cho ông: “Tôi có tội”. Ai cũng có tội cả tôi hiểu rất đơn sơ từ khi nhìn thấy tay của đứa hài nhi đánh vào mặt người sinh thành ra nó. Từ sơ sinh con người đã ‘đắc tội”. Cha Mẹ đã không “trừng trị” nó hồi trứng nước “nhớn” lên nó có thêm tội… cũng đành thôi! Xin Chúa ở mãi bên con người và tha cho họ hết rồi… gia ân bội phần cho họ vui! Đấy sự đời người ta nói: “Xây chi chín đợt phù đồ hãy lo làm phúc cứu cho một người”. Có ai chịu cứu một mạng người đâu? Người ta xây chùa xây giáo đường để cứu hàng vạn người đau khổ… hay hơn. Người ta thích làm điều gì đó thật vẻ vang chỉ người làm văn chương là “ẩu” làm cái “nghề” thấp kém mà Phan Bội Châu từng than thở: “Lập Thân Tối Hạ Thị Văn Chương”. Ông Võ Phiến hiền rất hiền ai cũng công nhận đa số công nhận nhưng thiểu số chưa hài lòng nên “sự sinh” là chuyện thường tình vậy! Trong cuốn “Cuối Cùng” ông Võ Phiến tuyêt đối không “di lụy” tới ai mong ông sống còn và còn sống thật thoải mái ngày nào ông đi được ra khỏi thế gian này… ông cứ đi để cho tôi khóc! 

Đọc cuốn “Cuối Cùng” của ông Võ Phiến bài nào tôi cũng thích từ thơ tới văn xuôi. Nhưng bài tôi “chịu:” nhất là bài cuối cùng trước khi tôi xếp lại cuốn “Cuối Cùng”. 

Vì bài đó không dài mấy chép lại không mỏi tay xin chép lại dưới đây: 

 

CÁI SỐNG HỮNG HỜ

Trên một trang báo Newsweek vào khoảng giữa năm ngoái ông Kirk Douglas – một vị lão thành (ngoại cửu tuần) – kể rằng ngày ông còn nhỏ khi thân mẫu lâm bệnh nặng hấp hối lìa trần ông hoảng hốt chụp ôm tay mẹ. Cụ bà mở mắt nhìn con nói câu cuối cùng: “Đừng sợ hãi bất cứ ai rồi cũng đến chỗ này thôi con ạ (… it happens to everyone)”. Người con lớn lên sống vững tâm nhớ lời mẹ dạy; ông lại nhớ ra là: “bất cứ ai khác cũng đến chỗ này thôi (it happens to everyone else)”. 

Cái chết của chính mình cái ấy khó nghĩ đến một cách nghiêm chỉnh. Khó lắm. Cứu cánh cuộc đời ý nghĩa hiện hữu của vũ trụ của muôn loài v.v... về những cái này cứ tha hồ suy tưởng. Nhưng về chỗ sự chết ngỏm của con người (và đặc biệt là của chính mình) thì đố biết. Càng nghĩ càng rối thôi. 

Ngại rối ren bèn trốn tránh hết mình. Nhưng trốn mà thoát được à? Vào những lúc bất ngờ nhất tưởng mình đang an toàn thảnh thơi có thể ta vừa ngẩng đầu lên bỗng thấy nó chình ình ngay trước mặt. Cực kỳ sỗ sàng.

Bản thân tôi trước đây có lần phải vào bệnh viện chịu mổ xẻ tôi ngậm ngùi viết những lá thư gửi lại bạn bè nhờ một văn hữu thân tình trao giúp cho sau khi mình… ra đi. Hóa ra rồi sau cuộc giải phẩu tôi tiếp tục sống nhăn. Sống và ngượng ngùng vu vơ.

Năm tháng trôi qua. Quá bát tuần tôi lén lút hướng một chút tưởng tượng về cái kết thúc cuộc đời của mình. Chắc là gần thôi. Liếc mắt phớt qua tí ti sợ gì? Liếc qua xong rồi liếc lại tôi ngạc nhiên không nhận thấy một xúc động bất thường nào xảy ra cả. Cuộc sống đang tiếp diễn vẫn tiếp diễn đều đều.

Nửa năm sau rồi một năm sau nữa cả tôi lẫn cái quanh tôi cùng hòa đồng êm ả theo dòng thời gian.

Bèn cố gắng dò đoán ý định của Tạo Hóa. Và dần dần có cảm tưởng mơ hồ về một chăm sóc độ lượng khoan hòa. Cảm tưởng rằng lúc con người trẻ trung thì được Trời cho tha hồ vung vẩy bấy giờ nếu nghe loáng thoáng về sự vấp váp suy tàn – đặc biệt là về cái chết – thì ôi thôi… Bất khả! Tôi bất khả!

Tạo Hóa có lòng lành nhón tay khe khẻ điều chỉnh lòng người. Tuổi người càng cao lòng người càng bớt sôi nổi bớt tha thiết. Rốt cuộc còn lại sự hững hờ: Chết - Ai mà khỏi? Việc gì phải sợ? Bà cụ hấp hối nói câu cuối cùng với người con hoảng hốt trong tờ báo Mỹ nọ chính là đã nói câu ấy. Tạo Hóa mớm ý mớm lời cho cụ. Cũng như mọi cụ cả ông lẫn bà.

Nhân một lời trên báo Newsweek nhớ lại một lời trên báo khác (Thế Kỷ 21 số đôi: 225 & 226). Mừng Xuân mới chủ bút Ngô Nhân Dụng nhắc lời Khổng Tử: “Thiên địa chi đại đức viết sinh” (Tính chất nổi bật trong trời đất là sự sống). Tiếp lời cụ Khổng bạn Ngô tưng bừng: “Không cần một nghị quyết nào của Thiên Nhiên ra lệnh cho các cánh đồng cỏ cùng mọc lên đúng ngày đúng tháng. Sự sống tự nó biết cách sống không cần phân tích lý luận để quyết định vạn vật có nên sống hay không”.

Người nay người xưa cùng một tưng bừng rạng rỡ. Rụp rụp sự sống biết cách sống. Nhưng sau sự sống con người – mọi người - đều sẽ có dịp gặp một sự nữa là sự chết. Sự chết thì sao? Liệu tự nó có biết chết một cách tử tế cho thiên hạ nhờ tí hay không?

Tôi âm thầm nghĩ ngợi và ngờ rằng đây là lúc xuất lộ cái từ tâm của Hóa Công. Chúng ta không nên mè nheo đòi hỏi cho được vừa huýt sáo mồm vừa chết. Chỉ mong những bước chân đến ngôi mộ của chính mình sẽ là những bước thong thả hững hờ. Đại khái thế thôi. Và Tạo Hóa đã xếp đặt như thế. Trước cái chết bà cụ nọ trấn an con chớ không phải là người con an ủi mẹ. (Santa Ana 2009).

*

Những dòng cuối cùng của cuốn sách “Cuối Cùng” ông Võ Phiến viết như thế đó. Ông dùng chữ hững hờ tôi nghĩ rằng ông muốn tỏ ra mình không quan tâm đến cái chết. Tôi hơi buồn sao ông thích sống mà không thích chết? Chết cũng vui lắm chứ? Chịu chết càng vui hơn vì… mình hoàn thành nhiệm vụ. Nhưng ai cấm tôi… hiểu xa hơn: khi khép lại một cuốn sách không phải là khép lại một ước mơ. Tôi biết ông Võ Phiến đang còn sống sự sống đối với ông chẳng những đối với riêng ông mà cả nhà ông bạn bè ông bà con ông đều là sự cần thiết… để vui thêm ngày nào mừng ngày đó. 

Với cái tuổi tám mươi lăm với cái câu Trẻ Sao Già Vậy ông đi đứng ăn uống đang cần có người chăm sóc ông còn sáng suốt ông để cho con cháu thấy cảm nghĩ của ông lỡ ông có xuôi tay nhắm mắt cái gì còn đó thì còn đó! Cuốn sách “Cuối Cùng”! Tấm lòng Võ Phiến chưa hay không gói hết trong tác phẩm “Cuối Cùng” có lẽ vì ông không khỏe. Đọc cuốn “Cuối Cùng” người đọc chưa thỏa lòng thỏa dạ… vì thấy như chưa phải là tác phẩm Cuối Cùng của Võ Phiến! 

Hi vọng rằng năm nay mưa thuận gió hòa Ông Võ Phiến khỏe mạnh trở lại lắc đầu cho rơi đi cái “tiêu cực” nếu có nếu tồn đọng trong ông… để ít ra còn cho độc giả ái mộ ông có vài bài thơ vài truyện ngắn vài bài tùy bút trong cảnh lão giả an chi… 

 

TRẦN VẤN LỆ

 

More...